Thế Giới Quan Phật Giáo – Phần 1

A/  BẢN CHẤT CỦA THẾ GIỚI LÀ “KHÔNG”

1/ Tất cả các sự vật đều vận động và biến đổi

Quan niệm “Không” chiếm địa vị quan trọng tỏng hệ thống lý luận của Phật giáo. Các tông phái Phật giáo đều có đề cập ở mức độ khác nhau về quan niệm “Không”. Đó chỉ là lý giải khác nhau của các tông phái đối với “Không”, góc độ luận giảng về “Không” cũng khác nhau.

2/  Không có sự tốn tại vĩnh hằng tức là Không

Quan niệm về “Không” khi Phật giáo mới xuất hiện (Phật giáo nguyên thủy) được xác lập trên cơ sở quan niệm “Vô thường” và “Vô ngã”. Phật giáo nguyên thủy cho rằng, con người và sự vật chẳng qua chỉ là sự hợp thành của Ngũ uẩn, đều dựa vào điều kiện nhất định mà sinh ra hoặc mất đi, cho nên trên thế giới tịnh không tổn tại vật gì thường hằng bất diệt.

Quan niệm về thế giới của Phật giáo là "Không"
Quan niệm về thế giới của Phật giáo là “Không”

Phật giáo nguyên thủy cho rằng trạng thái không tồn tại vĩnh hằng của tất cả sự vật trên thê gian là “Không”. Tóm lại, quan niệm “Không” của Phật giáo nguyên thủy tuyệt đối không có nghĩa không có bất cứ thứ gì như ý nghĩa được biểu hiện trên mặt chữ của nó.

Đọc thêm: Cuộc đời Đức Phật Thích Ca

3/ Sự phát triển của quan niệm “Không”

Khi phát triển đến giai đoạn Phật giáo Bộ phái, quan niệm về “Không” trong Phật giáo cũng xuất hiện trạng thái tương đối phức tạp, sự lý giải đối với “Không” của các dòng phái đều không giống nhau. Có những dòng phái không chỉ dừng lại khái quát chung về “Không” và “Bất không” của sự vật mà đưa ra nhiều kiến giải khác nhau về vấn đề này từ nhiều góc độ.

Thế giới quan của Phật giáo – Niết Bàn – Luân hồi

Đa phần họ nhìn nhận về “Không” từ góc độ những thứ của hiện tại tương lai không tồn tại hoặc những thứ trước đây tồn tại mà hiện tại không tồn tại, ngoài ra còn phân biệt một cách nghiêm túc giữa “Không” và “Hữu”, xem đó là hai trạng thái khác nhau của sự vật. Họ nhấn mạnh quan niệm về “thể không”, cho rằng sự vật trên bản tính vốn là không, “Không” của sự vật chính là chỉ sự giả hữu, hoặc nói tính “Không” chính là chỉ duyên khởi của sự vật, bởi vì tất cả các sự vật không hề có ngoại lệ đều là Duyên khởi.

Bất kể sự vật nào là quả hay sự vật nào là nhân đều do duyên khởi sinh ra. Vì sự vật đều không có tự thể, không có sự vật nào là “Bất không”. Nhưng “Không” cũng không phải là hư vô tuyệt đối, là trạng thái hoặc bản tính không ngừng biến đổi của sự vật. Phật giáo Đại thừa lại cho rằng, quan niệm của con người đối với sự vật không thể hoàn toàn phản ánh bản lai diện mục (thực tướng) của sự vật bên ngoài, vì thế quan niệm của mọi người đối với sự vật trên bản chất không hoàn toàn đầy đủ tính chân lý, là ảo, là “Không”.

Đọc thêm: Giáo nghĩa cơ bản của Phật Giáo – Phần 1

B/ VÔ THẦN

1/Thế giới không phải là sáng tạo của thần thánh

Phật giáo chủ trương vô thần luận, nhưng quan điểm về vô thần của Phật giáo không giống với vô thần của chủ nghĩa duy vật.

Điểm khác nhau của Phật giáo với các tôn giáo khác là ở chủ trương “vô thần”. Bất kỳ tôn giáo nào, nếu không phải sùng bái đa thần thì cũng tín phụng một vị thần chủ tể, ví dụ như Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo. Chỉ có riêng Phật giáo cho rằng không phải thần sáng tạo ra thế giới mà thế giới sáng tạo ra thần, tất cả các sự vật trên thế giới đều do duyên khởi sinh ra.

Sự Vô Thần của Phật giáo khác với sự vô thần của thế giới duy vật
Sự Vô Thần của Phật giáo khác với sự vô thần của thế giới duy vật

Ngay đến Phật cũng không phải là thần. “Phật” trong tiếng Phạn là chỉ người từ những uẩn khúc trong tình cảm và nội tâm được tịnh hóa và giải thoát, thu được trí tuệ vô thượng. Vì thế, Phật là tên gọi chung cho những người đạt được giác ngộ.

Tượng Phật Thích Ca dưới gốc cây Bồ Đề
Tượng Phật Thích Ca dưới gốc cây Bồ Đề

Đương thời, đức Thích Ca Mâu Ni ngộ đạo dưới gốc cây bổ đề, phát hiện ra vạn vật trong vũ trụ đều nương vào quy luật của duyên khởi mà hưng suy thành bại, tịnh không do một vị thần chủ tể nào quyết định.

Phật giáo đề xuất “Chư pháp vô ngã”, “Vô ngã” đối với vũ trụ là chỉ không có thần vĩnh hằng và chủ tể thế giới. Đối với cá thể mà nói là chỉ không có linh hồn vĩnh hằng và chủ tể sinh mệnh. Phật giáo lấy quan điểm Duyên khởi để nhìn nhân thế giới không có thần, linh hồn vĩnh hằng và chủ tể.

Cho dù đức Thích Ca Mâu Ni được tôn xưng là “bậc thầy hàng đầu từ cổ chí kim”, nhưng ngài cũng không phải là vị thần của Phật giáo. Trong vô lượng kiếp đã có vô số người đạt được chứng ngộ.

Người đạt được Bồ đề đều có những thể ngộ khác nhau, vì thế mọi người không xem Phật Tổ có trí tuệ hơn bất kỳ một vị Phật nào khác. Nhưng chỗ vĩ đại của Phật Tổ là ở chỗ: Ngài đã hệ thống hóa pháp môn Phật quả mà mình chứng đắc được để truyền thừa lại. “Bậc thầy hàng đầu từ cổ chí kim” chính là ở điểm này.

Đọc thêm: Giáo nghĩa cơ bản của Phật Giáo – Phần 2

2/ Sự khác nhau gia thần và không có quỷ thẩn

Phật giáo tuy chủ trương “vô thần” nhưng nó hoàn toàn khác với Vô thần luận của chủ nghĩa duy vật. Phật giáo tuy cho rằng trong vũ trụ không có thần chủ tể, nhưng lại không phủ nhận trong chốn u minh không có quỷ thần tồn tại. Phật giáo cho rằng quỷ thần cũng giống như con người, chỉ là một loài trong chúng sinh hữu tình, tuyệt không có ý nghĩa chủ thể vĩnh hằng.

Tứ đại thiên vương trong Phật giáo
Tứ đại thiên vương trong Phật giáo

Còn vô thần luận của chủ nghĩa duy vật là một loại đoạn diệt luận. Nó không thừa nhận trên thế giới có sự tồn tại của quỷ thần, cũng không thừa nhận chúng sinh hữu tình sau khi chết, sinh mệnh vẫn có thể tiếp tục.

Phật giáo tuy phủ nhận thần, linh hồn vĩnh hằng và chủ tể nhưng khẳng định sinh mệnh không đoạn diệt, mà dưới sự chi phối của quy luật duyên khởi, không đoạn diệt, không thường hằng, kéo dài vô cùng vô tận.

+ Đọc thêm : Sự Hưng Khởi Của Phật Giáo Đại Thừa

C/ LUÂN HỒI

1/ Luân hồi và nguyên nhân sinh ra nó

Phật giáo cho rằng, con người sau khi chết tshần thức vẫn còn, sẽ nương theo nghiệp lực mà không ngừng luân chuyển trong sáu cõi.

Phật giáo cho rằng, hình thể của con người có thể mất đi bất cứ lúc nào nhưng linh hồn thì tồn tại vĩnh viền, không ngừng chuyển thế trong Lục đạo luân hồi, lưu chuyển qua lại không ngừng trong Tứ sinh (thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh), trải qua vô số lần sinh sinh tử tử, tuần hoàn trong Tam giới, thông suốt lẫn nhau.

Bánh xe Luân Hồi thể hiện 6 cõi
Bánh xe Luân Hồi thể hiện 6 cõi

Sự lưu chuyển qua lại không ngừng của sinh mệnh này chính là luân hồi. Về nguyên nhân sinh ra luân hồi, Phật giáo cho rằng là do nhân duyên đầu tiên trong 12 nhân duyên – Vô minh dẫn đến.

Vô minh là chỉ sự vô tri (không hiểu biết) về bản lai diện mục (thực tướng) của sự vật, do vô tri mà sinh ra “Hành (tức sự truy cầu đối với sự vật), các loại “Hành” khác nhau sẽ sinh ra các nghiệp lực khác nhau, chính từ sự tồn tại của nghiệp lực đã cung cấp nguồn động lực không ngừng cho luân hổi.

2/ Luân hồi

Phật giáo cho rằng thế giới này là do sáu cõi tổ thành, chúng sinh lưu chuyển không ngừng trong đó. Sáu cõi lần lượt là: Cõi trời, cõi người, cõi A tu la, cõi súc sinh, cõi ác quỷ và cõi địa ngục, ba cõi trước gọi là ba lạc thú, ba cõi sau gọi là ba ác thú.

Cõi Trời và cõi Atula
Cõi Trời và cõi Atula

Cõi trời: Cuộc sống của chúng sinh cõi trời tự do tự tại, trường thọ và không có phiền não, là cõi đứng đầu trong sáu cõi. Nhưng nếu họ mê luyến hưởng lạc thế tục, để nghiệp lực hao tận phúc báo bản thân thì sẽ bị đọa xuống năm cõi còn lại.

Cõi trời trong bánh xe Luân Hồi
Cõi Trời trong bánh xe Luân Hồi
Cõi Atula trong bánh xe Luân Hồi
Cõi Atula trong bánh xe Luân Hồi

Cõi Atula: Chúng sinh trong cõi này có phúc báo cực lớn, tuổi thọ rất cao, không khác mấy với chúng sinh cõi trời, vì thế mà cõi này còn được gọi là “phi thiên”. Nhưng do tâm đố kỵ và sự hiếu chiến, khi khai chiến với thiên giới, Atula dần dần thất bại mà phải chịu thống khổ rất lớn.

Cõi Người và cõi ngọa quỷ
Cõi Người và cõi ngọa quỷ

Cõi người: Phương thức thụ sinh của chúng sinh trong cõi người là thai sinh (sinh từ bào thai), con người suốt cuộc đời phải chịu rất nhiều thống khổ.

Phật ở cõi người và ngọa quỷ
Phật ở cõi người và ngọa quỷ

Cõi quỷ đói: Chúng sinh trong cõi quỷ đói không có thức ăn và nước uống, thường đểu có hình tượng bụng to đầu nhỏ, khi ăn cổ họng có cảm giác bị thiêu đốt. Nỗi thống khổ mà cõi quỷ đói phải gánh chịu còn lớn hơn so với cõi súc sinh, nhưng trí lực của chúng đủ để hiểu Phật pháp, không ngu si như súc sinh.

Cõi sức sinh và địa ngục trong bánh xe Luân Hồi
Cõi sức sinh và địa ngục trong bánh xe Luân Hồi

Cõi súc sinh: Chúng sinh của cõi này sống rải rác ở trên trời, dưới đất, trong lòng đất và dưới nước. Đại đa số súc sinh đều ngu si và thiếu khả năng suy nghĩ chính xác, cho nên không thể tích lũy được thiện nghiệp. Ngoài ra, súc sinh còn phải gánh chịu nóng lạnh, đói khát và tàn sát lẫn nhau trong thế giới tự nhiên.

Phật ở cõi súc sinh và địa ngục
Phật ở cõi súc sinh và địa ngục

Cõi địa ngục: Trong sáu cõi, sự thống khổ mà chúng sinh trong cõi địa ngục phải chịu đựng là đáng sợ nhất. Cõi địa ngục có thể chia nhỏ thành bốn bộ phận lớn là Bát đại hàn địa ngục, Bát đại nhiệt địa ngục, Du tăng địa ngục và Cô độc địa ngục.

(Trích từ sách Phật Học Căn Bản)

Theo dõi các bài viết khác tại đây: Blog

Theo dõi thêm kênh Youtube tại đây!