Sự Hưng Khởi Của Phật Giáo Đại Thừa

A/ SỰ HƯNG KHỞI CỦA PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA

Vào khoảng thế kỷ thứ I trước Công nguyên, Phật giáo Đại thừa hưng khởi tại Ấn Độ. Sự hưng khởi của Phật giáo Đại thừa là một cải cách lớn trong nội bộ Phật giáo. Từ đây Phật giáo tiến nhập vào thời kỳ gọi là Phật giáo Đại thừa. Lưu phái có tính đại biểu đầy đủ nhất cho Phật giáo Đại thừ chủ yếu có: Phải Trung quán và Du già hành (Yogàcàra).

1/ Sự hưng khởi của Phật giáo Đại thừa     

Vào khoảng thế kỷ thứ I trước Công nguyên, Phật giáo Đại thừa hưng khởi tại Ấn Độ. Cái gọi là “Đại thừa” là chỉ “công cụ vận chuyển lớn”, nói một cách chính xác chính là “thu được nhận thức chính xác, đạt được con đường hoặc phương pháp lớn của giải thoát”.

Sự hưng khởi của Phật Giáo Đại Thừa
Sự hưng khởi của Phật Giáo Đại Thừa

Sau sự hưng khởi của Phật giáo Đại thừa, mọi người đã gọi chung Phật giáo nguyên thủy và một số lưu phái trong Phật giáo Bộ phái là “Tiểu thừa”, nghĩa là “công cụ vận chuyển nhỏ, con đường và phương pháp nhỏ”.

Tuy lúc này, Phật giáo Đại thừa đạt được sự phát triển rất lớn nhưng nó vẫn chưa thu được sự ủng hộ nhất trí. Trong khi đó, Phật giáo Tiểu thừa vẫn phát triển không ngừng nghỉ, vẫn song song tổn tại cùng với Phật giáo Đại thừa.

Đọc thêm: Cuộc đời Đức Phật Thích Ca

2/ Sự khác biệt chủ yêu của Phật giáo Đại tha và Tiểu thừa

Sở dĩ sự hưng khởi của Phật giáo Đại thừa được xem là một cuộc cải cách tương đối lớn trong lịch sử Phật giáo là vì tư tưởng của Phật giáo Tiểu thừa và tư tưởng của Phật giáo Đại thừa tồn tại những khác biệt rất lớn. Dưới đây chúng tôi chọn ra mấy điểm chủ yếu để thuyết minh.

Sự khách biệt giữa Phật giáo Đại Thùa và Phật Giáo TIểu thừa
Sự khác biệt giữa Phật giáo Đại Thùa và Phật Giáo TIểu thừa

Thứ nhất, trến phương pháp và mục đích tu hành: Tiểu thừa thường tu theo lý luận gọi là “Tam học” hoặc “37 đạo phẩm”, xem chứng đắc quả vị A La Hán, cầu được giải thoát cho mình làm mục đích tối cao. Còn Đại thừa thường tu theo Bồ Tát hạnh, lấy “Lục độ” làm phương pháp, xem thành Phật, phổ độ chúng sinh làm mục đích tối cao.

Phật giáo Tiểu thừa chú trọng vào việc tu tập của bản thân

Tiểu thừa thường yêu cầu phải xuất gia, nhấn mạnh đến xuất thế. Đại thừa không yêu cầu nhất định phải xuất gia, tương đối coi trọng nhập thế, đồng thời đề cao mối quan hệ mật thiết giữa tu hành với cuộc sống thế tục, chủ trương khiến cho chúng sinh thoát khỏi biển khổ mà không tách rời thế gian.

Thứ hai, trong việc lý giải đối với Niết bàn. Phật giáo Tiểu thừa thường coi Niết bàn là một cảnh giới đạt đến sau khi thoát khỏi sinh tử luân hồi, cảnh giới này hoàn toàn khác với thế giới thế tục.

Còn Phật giáo Đại thừa cho rằng, Niết bàn không có khác biệt thực tế với thế gian, cho rằng đạt đến Niết bàn chẳng qua chính là tiêu trừ vô tri, là nhận thức được thực tướng của chư pháp, tuyệt không tồn tại một cảnh giới Niết bàn độc láp hoàn toàn với thế gian.

Thứ ba, trên cách nhìn nhận đối với tính chất của Phật. Tiểu thừa xem Đức Phật là giáo chủ của Phật giáo, là người nắm giữ Phật pháp, còn Đại thừa cho rằng Phật là vị thần tối cao vô thượng. Nói tóm lại, Tiểu thừa thường không đặc biệt sùng bái hình tượng, còn Đại thừa thường cố gắng hình tượng hóa Phật.

Thứ tư, đới với vấn đề “Pháp” (cũng chính là vật chất) có thực hữu hay không cũng có sự khác biệt.

Đọc thêm: Giáo nghĩa cơ bản của Phật Giáo – Phần 1

B/ THỦY TỔ CỦA PHÁI TRUNG QUÁN TRONG PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA

Khi Phật giáo Đại thừa mới hưng khởi đã xuất hiện rẩ nhiều kinh Phật khác với trước đó, chủ yếu phản ánh tư tưởng Đại thừa. Nhưng những kinh điển này tồn tại hiện tượng chủng loại hỗn tạp, nội dung không thống nhất.

Vì thế có rất nhiều luận sư đã tiến hành giải thích và thuyết minh cho tính hệ thống của kinh Phật. Đáng chú ý nhất trong số đó là Long Thụ và đệ tử  của ngài là Đề Bà. Sau này, trên tư tưởng của hai người đã hình thành nên phái Trung quán, là đại biểu điển hình của Phật giáo Đại thừa sơ kỳ.

1/ Long Thụ

Long Thụ (khoảng thế kỷ II-III trước Công nguyên), một luận sư nổi tiếng, người khai sáng ra phái Trung quán trong Phật giáo Đại thừa. Địa vị của ngài trong lịch sử Phật giáo chỉ đứng sau đức Thích Ca Mâu Ni.

Bồ tát Long Thụ
Bồ tát Long Thụ

Theo ghi chép trong Long Thụ Bồ Tát truyện: Ngài là người miền Nam Ấn Độ, xuất thân trong một gia đình Bà la môn. Lúc còn trẻ đã học rộng biết nhiều, tường thiên văn địa lý, đồ vĩ bí tịch cho đến đạo thuật, không gì là không tinh thông. Trước khi xuất gia từng học thuật ẩn thân cùng với ba người bạn, vào vương cung gây chuyện dâm loạn. Ba người bạn bị giết chết, chỉ còn ngài chạy thoát được.

Từ đó về sau, Long Thụ lĩnh ngộ được dục vọng khiến cho con người phiền não, vì thế ngài xuất gia. Trong vòng ba tháng đã đọc xong toàn bộ kinh điển mà ngài tìm được.

Sau đó ngài gặp một lão tỳ khiêu tại một tháp hoang trong núi tuyết, được tặng bí điển của Phật giáo Đại thừa, lại đọc trong vòng ba tháng thì xong. Ngài vẫn cảm thấy chưa đủ, vì thế đã đi khắp nơi phỏng cầu danh sư.

Cuối cùng tương truyền ngài được Đại Long Bồ Tát niệm chú, được kinh điển huyền bí. Sau khi đắc đạo, ngài chuyên hàng phục ngoại đạo, đại hoằng Phật pháp. Long Thụ có rất nhiều trước tác, nổi tiếng có Trung luận, Thập nhị môn luận, Đại trí độ luận

Đồ giải về Bồ Tát Long Thụ
Đồ giải về Bồ Tát Long Thụ

Đọc thêm: Giáo nghĩa cơ bản của Phật Giáo – Phần 2

2/ Đề Bà

Đề Bà (khoảng thế kỷ III trước Công nguyên), là một trong những luận sư chủ yếu của phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa, là đệ tử của Long Thụ, người miền Nam Ấn Độ, thuộc đẳng cấp Bà la môn. Ngài từng chu du qua các nơi của Ấn Độ cổ đại, hoằng dương tư tưởng của phái Trung quán. Khi hoằng dương tư tưởng Phật giáo Đại thừa, một đặc điểm quan trọng là am hiểu về phương thức biện luận để phản biện quan điểm của các phái khác.

Theo ghi chép trong Đề Bà Bồ Tát truyện, Đề Bà từng lập ra Tam luận, tức “Trong tất cả chư thánh, Phật thánh là đệ nhất; trong tất cả chư pháp, Phật pháp là đệ nhất; trong tất cả đấng cứu thế, Phật tăng là đệ nhất”. Sau đó tuyên xưng: “Luận sĩ tám phương có thể phá được câu nói này thì ta sẽ chặt đầu để tạ tội với người đã khuất phục được”.

Nếu đối phương biện luận thất bại thì phải “cạo râu xuống tóc để làm đệ tử”. Kết quả là “kẻ trí thiển tình đoản thì một câu đã bị khuất phục, còn người trí thâm tình trường thì nhiều cũng chỉ đến hai ngày tất cạn sạch lý lẽ đều phải xuống tóc, trong vòng ba tháng độ được trăm vạn người”.

Trước tác chủ yếu của Đề Bà là Bách luận, Tứ bách luận Ngài có công lao rất lớn trong sự phát triển của phá Trung quán và chiếm địa vị quan trọng trong sự phát triển của Phật giáo Đại thừa.

C/ SỰ TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA    

Vào khoảng sau thế kỷ thứ III, Ấn Độ lại xuất hiện một hệ thống kinh Đại thừa mới có ảnh hưởng rất lớn, những kinh điển này thường được gọi là kinh Đại thừa Tục xuất hoặc Hậu xuất, chúng có tác dụng vô dùng quan trọng đối với sự hình thành phái Du già hành của Phật giáo Đại thừa.

1/ Sự hình thành của phái Du già hành (Yogàcàra)

Khoảng thế kỷ thứ IV – V, trong Phật giáo Đại thừa của Ấn Độ xuất hiện một tông phái quan trọng, đó là phái Du già hành. Phái Du già hành và phái Trung quán có không ít khác biệt, nhưng trên một số quan điểm cơ bản của Phật giáo Đại thừa giữa hai phái cũng có chỗ tương đồng.

Nhiều lý luận của phái Du già hành cũng lấy một số lý luận trong kinh Đại thừa sơ kỳ làm cơ sở, nhưng lại đặc biệt hấp thu một số tư tưởng trong kinh Đại thừa Tục xuất, hơn nữa còn tiếp thu cải tạo tất cả những quan niệm của Phật giáo Tiểu thừa, từ đó xây dựng thành hệ thống lý luận có tính đặc sắc riêng.

2/ Luận sư và trước tác chủ yếu của phái Du già hành

Tương truyền người khai sáng ra phái Du già hành là đức Phật Di Lặc, nhưng vấn đề có liên quan trên lịch sử xác thực của đức Phật Di Lặc đến nay vẫn đang là vấn đề gây nhiều tranh luận.

Đức Phật Di Lặc
Đức Phật Di Lặc

Tương truyền, ngài sống vào khoảng đầu thế kỷ thứ IV. Đức Phật Di Lặc đề xuất tư tưởng cơ bản của phái Du già hành, rồi truyền thụ cho các luận sư của phái Du già hành sau này.

Có không ít luận trước của phái này được đề danh của đức Phật Di Lặc, những bộ quan trọng được dịch sang tiếng Hán có Du già sư địa luận, Biện trung biên luận.. .Những bộ quan trọng được dịch sang tiếng Tạng cố Hiện quán trang nghiêm luận, Pháp pháp tính phân biệt luận…

Ngoài Di Lặc ra, luận sư chủ yếu của phái Du già hành còn có Vô Trước và Thế Thân. Hai người này đối với những luận trước đề tên Di Lặc đã làm nhiều chú thích, san định thành một bộ luận trước mới.

Ngài Vô Trước
Ngài Vô Trước

Vô Trước sống vào khoảng thế kỷ IV-V, là người nước Gandhara miền Bắc Ấn Độ, đầu tiên xuất gia theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, từng tu tập theo Phật pháp Tiểu thừa nhưng do không thỏa với ý nguyện nên đổi sang tu Phật pháp Đại thừa. Tương truyền ngài tiếp thụ lý niệm Đại thừa của Di Lặc, ban đêm thường đến cõi trời Đâu Suất, nơi ở của Phật Di Lặc để học Du già sư địa luận, trời sáng lại trở về đế truyền bá cho đại chúng. Trước tác chủ yếu của ngài có Kim cương Bát nhã luận, Thuận trung luận, Hiển dương thánh giáo luận…

Phật Giáo Đại thừa - các luận sư của phái Du già hành
Phật Giáo Đại thừa – các luận sư của phái Du già hành

Ngài Thế Thân là em ruột của Vô Trước. Sau khi xuất gia, đầu tiên cũng tu học Thuyết nhất thuyết hữu bộ thuộc Phật giáo Tiểu thừa và đạt được nhiều thành tựu, sau ảnh hưởng tư tưởng của Vô Trước nên cũng đổi sang tu Phật giáo Đại thừa. Trước tác chủ yếu của Thế Thân có Đại thừa Ngũ uẩn luận, Nhiếp Đại thừa luận thích, Phật tính luận…

(Trích từ sách Phật Học Căn Bản)

Theo dõi các bài viết khác tại đây: Blog

Theo dõi thêm kênh Youtube tại đây!